Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

Tại sao chúng ta cần quan tâm đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi? Cùng nhìn vào Bộ luật hình sự, đi từ luật định, để xem chúng đều xuất hiện ở 2 chế định rất quan trọng:

  1. Ranh giới giữa tội phạm và không phải tội phạm: “Hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm, và phải bị xử lý bằng các biện pháp khác” (khoản 1, Điều 8 BLHS)
  2. Phân loại tội phạm: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tội phạm được phân thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi không lớn […].
  3. Căn cứ quyết định hình phạt: Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân của người phạm tội, và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Vậy, việc xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi có ý nghĩa:

  1. Làm rõ làn ranh giữa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác: (lưu ý bộ luật chỉ quy định tính chất);
  2. Phân loại tội phạm để thực hiện được nguyên tắc công minh;
  3. Quyết định hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện

Vậy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là gì?

Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi được hiểu là bao gồm: (i) tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và (ii) mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Ở đó, tính chất là biểu hiện của yếu tố “chất” (quality), mức độ là biểu hiện của yếu tố “lượng” (quantity).

  • Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi có vai trò:
    • Phân biệt tội phạm và không phải là tội phạm (khoản 2, Điều 8)
    • Phân biệt các nhóm tội phạm thuộc các chương khác nhau: ví dụ tính chất của tội xâm phạm an ninh quốc gia rõ ràng là khác với tính chất của tội phạm sở hữu.
    • Phân biệt các tội phạm khác nhau trong cùng một chương: ví dụ cùng một khách thể, nhưng tính chất của Tội giết người khác Tội bức tử.
    • Phân biệt các khung khác nhau trong cùng một tội phạm: phân biệt giữa khoản 1 và khoản 2 (giữa CTTP cơ bản và CTTP tăng nặng).
  • Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi có vai trò:
    • Phân biệt mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội trong 1 khung cụ thể. Do khung thường rộng, ví dụ thực hiện hành vi tổn hại sức khoẻ từ 11% đến 30% (khoản 1, Điều 134). Mức độ nguy hiểm rõ ràng là tăng lên khi hậu quả tổn hại sức khoẻ là 11% và 22%.

Có thể bạn đang thắc mắc, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi có vai trò trong trường hợp hẹp vậy sao? Quan điểm của tôi như sau: Mức độ nguy hiểm phải được đo lường trong cùng 1 đại lượng. Ví dụ cùng là tỉ lệ tổn thương cơ thể, nhưng là trên một dải % khác nhau.

Dựa theo logic đó, tôi cho rằng khoản 2 Điều 8 chưa trọn vẹn khi chỉ nhắc đến tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là làn ranh giữa tội phạm và không phải tội phạm.

Nhận định đó là đúng trong trường hợp với các hành vi có tính chất nguy hiểm mà chỉ có thể được tìm thấy trong Bộ luật hình sự. Ví dụ như, hành vi giết người, hành vi bức tử.

Điều này cũng phần nào đúng với khoản 1 Điều 134 về một tội kinh điển là Tội cố ý gây thương tích. Tỷ lệ tổn hại sức khoẻ dưới 11% (vi phạm hành chính) và tỷ lệ tổn hại sức khoẻ dưới 11% (tội phạm) cũng vẫn có yếu tố khác về tính chất. Đó là các tình tiết định tội đi kèm, làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội lên đáng kể, chẳng hạn như, dùng a xít, dùng vật liệu nổ. Vì vậy, làn ranh ở đây là:

Vi phạm hành chínhTội phạm Tội phạm
Cố ý gây thương tích gây tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%Cố ý gây thương tích, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% + tình tiết làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi (ví dụ dùng a-xít)Cố ý gây thương tích, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể trên 11%

Song, điều này là chưa đủ. Ở trường hợp cố ý gây thương tích với tỉ lệ tổn hại sức khoẻ dưới 11% và trên 11% là đang so sánh trên cùng một trục tính chất của hành vi. Sự khác nhau giữa trường hợp trước (vi phạm hành chính) và trường hợp sau (tội phạm) nằm ở mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.

Tôi sẽ lấy thêm một ví dụ khác, ở một tội danh cũng không kém phần phổ biến và tính chất có đôi nét tương đồng:

Tôi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260). Ở khoản 1, nhà làm luật quy định người nào vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (ví dụ vượt đèn đỏ, đi sai làn đường, đi vượt quá tốc độ pháp luật cho phép), nhưng do lỗi vô ý, lại gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên. Điều này có nghĩa là, cùng tính chất hành vi là vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, nhưng mức độ tỷ lệ tổn thương cơ thể gây ra cho nạn nhân dưới 61%, thì không phải là tội phạm. Ví dụ trên đã phần nào củng cố quan điểm rằng mức độ nguy hiểm cho xã hội, khi xét trên một hành vi có cùng tính chất, có ý nghĩa trong thiết lập ranh giới giữa tội phạm và không phải tội phạm.

Vì vậy, tôi kiến nghị, cần bổ sung tại khoản 2 Điều 8 thêm “mức độ” là căn cứ phân định tội phạm và vi phạm pháp luật khác.